Khi quyết tâm chính trị được cụ thể hóa bằng kết quả thực thi
Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã xác lập một định hướng chiến lược có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của đất nước. Trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế ngày càng dựa nhiều vào năng lực công nghệ, dữ liệu, đổi mới sáng tạo và chất lượng quản trị, việc thực hiện Nghị quyết không đơn thuần là yêu cầu ứng dụng những thành tựu công nghệ mới, mà còn là đòi hỏi đổi mới tư duy phát triển, phương thức lãnh đạo, quản lý và tổ chức thực hiện.
Đối với ngành Công Thương, yêu cầu đó càng có ý nghĩa thiết thực. Đây là ngành quản lý nhiều lĩnh vực có quy mô lớn, phạm vi rộng, liên quan trực tiếp đến sản xuất công nghiệp, năng lượng, thương mại, thị trường trong nước và hoạt động xuất nhập khẩu. Những lĩnh vực này vừa là đối tượng thụ hưởng, vừa là môi trường quan trọng để khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tạo ra giá trị mới.
Nhìn lại 10 tháng thực hiện Nghị quyết trong năm 2026, có thể nhận thấy một chuyển động đáng chú ý trong cách thức triển khai tại Bộ Công Thương: từ cụ thể hóa chủ trương thành hệ thống nhiệm vụ, xác định rõ đầu mối và thời hạn, đến tăng cường theo dõi tiến độ, kiểm chứng sản phẩm và đánh giá kết quả thực hiện. Đây chính là bước chuyển quan trọng để tinh thần của Nghị quyết đi vào thực tiễn quản lý nhà nước và hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Theo số liệu trên Hệ thống theo dõi nhiệm vụ của Trung ương, tính đến ngày 30/10/2026, Bộ Công Thương được giao 291 nhiệm vụ; trong đó, 183 nhiệm vụ đã hoàn thành, gồm 147 nhiệm vụ hoàn thành đúng hạn và 36 nhiệm vụ hoàn thành sau hạn; 9 nhiệm vụ đang thực hiện trong hạn, 99 nhiệm vụ thường xuyên và không có nhiệm vụ quá hạn.

Đáng chú ý, đối với Kế hoạch hành động 100 ngày theo Quyết định số 88/QĐ-BCĐCP, Bộ Công Thương được giao 18 nhiệm vụ, trong đó đã hoàn thành 13 nhiệm vụ, 5 nhiệm vụ còn lại đang được triển khai trong thời hạn, không có nhiệm vụ quá hạn. Kết quả này cho thấy nỗ lực duy trì kỷ luật thực thi, nâng cao trách nhiệm của các đơn vị trong tổ chức triển khai những nhiệm vụ trọng tâm.
Điểm đáng ghi nhận không chỉ nằm ở số lượng nhiệm vụ đã hoàn thành, mà còn ở yêu cầu ngày càng rõ ràng về chất lượng thực hiện. Việc theo dõi tiến độ gắn với sản phẩm cụ thể, minh chứng kết quả; những nhiệm vụ báo cáo hoàn thành nhưng không có sản phẩm chứng minh không được ghi nhận là hoàn thành. Cách tiếp cận này góp phần hạn chế tình trạng hoàn thành trên báo cáo, thúc đẩy chuyển từ tư duy quản lý theo đầu việc sang quản lý theo kết quả.
Đây cũng là một biểu hiện cụ thể của việc xây dựng nền hành chính phục vụ, chuyên nghiệp, hiện đại, trong đó hiệu quả thực thi và trách nhiệm giải trình phải được đặt ở vị trí trung tâm.
Chuyển đổi số: Lấy hiệu quả phục vụ người dân, doanh nghiệp làm thước đo
Một trong những lĩnh vực thể hiện rõ nét nhất kết quả triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW tại Bộ Công Thương là cải cách thủ tục hành chính gắn với chuyển đổi số.
Ngày 15/10/2026, Bộ Công Thương ban hành Quyết định số 2686/QĐ-BCT công bố danh mục dịch vụ công trực tuyến toàn trình và một phần. Đến thời điểm báo cáo, Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính tập trung đã cấu hình 398 dịch vụ công trực tuyến, tương ứng 100% thủ tục hành chính của Bộ sau cắt giảm; trong đó có 242 dịch vụ công trực tuyến toàn trình, chiếm 60,8%. Toàn bộ các dịch vụ công này đã được tích hợp lên Cổng Dịch vụ công quốc gia.

Tỷ lệ hồ sơ trực tuyến đạt 99,9% ở cấp Bộ và 99% ở cấp tỉnh, cấp xã. Đối với 30 thủ tục hành chính có nghĩa vụ tài chính, tỷ lệ thanh toán trực tuyến đạt 100%. Đặc biệt, 162/162 thủ tục hành chính thuộc diện theo Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP đã sử dụng dữ liệu để thay thế thành phần hồ sơ.
Những con số này phản ánh một chuyển biến quan trọng: việc giải quyết thủ tục hành chính đang từng bước dịch chuyển từ phương thức xử lý dựa nhiều vào giấy tờ sang khai thác, kết nối và tái sử dụng dữ liệu. Khi dữ liệu được sử dụng hiệu quả, người dân và doanh nghiệp có thêm điều kiện giảm thời gian, chi phí thực hiện thủ tục; cơ quan quản lý cũng có cơ sở nâng cao tính minh bạch, khả năng kiểm soát và chất lượng phục vụ.
Đặc biệt, Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính tập trung được triển khai trên phạm vi 34 tỉnh, thành phố, tạo nền tảng kết nối hoạt động giải quyết thủ tục hành chính từ cấp Bộ đến địa phương. Hơn 160.000 tổ chức, cá nhân thường xuyên sử dụng hệ thống. Bộ Công Thương cũng phối hợp với VNPT duy trì 34 nhóm hỗ trợ trực tuyến và trực tiếp tại 34 địa phương, kịp thời hướng dẫn, tháo gỡ khó khăn trong quá trình thực hiện các thủ tục hành chính đã được phân cấp, phân quyền.
Đằng sau quá trình này là một yêu cầu lớn hơn về thay đổi phương thức quản lý: không chỉ đưa thủ tục lên môi trường mạng, mà phải tổ chức lại quy trình, chuẩn hóa dữ liệu và tăng khả năng liên thông giữa các hệ thống. Đây mới là nền tảng để chuyển đổi số tạo ra hiệu quả thực chất, thay vì chỉ thay đổi hình thức cung cấp dịch vụ công.
Trong lĩnh vực dữ liệu, Bộ Công Thương đã hoàn thành, đưa vào vận hành 3 cơ sở dữ liệu theo yêu cầu của Trung ương và Chính phủ. Cơ sở dữ liệu hóa chất đạt 18/19 tiêu chí theo đánh giá của Bộ Công an, đã kết nối, chia sẻ với Trung tâm Dữ liệu quốc gia, tỷ lệ làm sạch dữ liệu đạt 99,6%. Cơ sở dữ liệu kinh tế công nghiệp và thương mại đáp ứng 16/16 chỉ tiêu thống nhất. Cơ sở dữ liệu xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý thị trường có khoảng 19 triệu bản ghi và đã kết nối với Cổng Dịch vụ công quốc gia.
Đây là những nền tảng quan trọng để từng bước hình thành phương thức quản lý dựa trên dữ liệu, tăng cường khả năng chia sẻ thông tin và hỗ trợ công tác quản lý ngành. Định hướng tái cấu trúc 34 cơ sở dữ liệu chuyên ngành thành 7 cơ sở dữ liệu cốt lõi cũng thể hiện yêu cầu chuyển từ phát triển các hệ thống riêng lẻ sang tổ chức dữ liệu có tính kết nối, đồng bộ và phục vụ khai thác lâu dài.
Cùng với đó, 100% hồ sơ công việc, trừ văn bản mật, được xử lý trên Hệ thống quản lý văn bản và điều hành iMOIT, kết nối với Trục liên thông văn bản quốc gia. Công tác bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng được chú trọng; các hệ thống thông tin quan trọng đặt tại Trung tâm tích hợp dữ liệu của Bộ đã được phê duyệt cấp độ và triển khai phương án bảo đảm an toàn. Mô hình bảo vệ 4 lớp, giám sát an ninh mạng 24/7 được triển khai; trong tháng 10/2026 không ghi nhận sự cố an ninh mạng phải xử lý tại các hệ thống được báo cáo.
Đáng chú ý, Bộ đã tổ chức các lớp bồi dưỡng chuyên sâu về kỹ năng ứng dụng trí tuệ nhân tạo và công nghệ chuyển đổi số, công nhận hoàn thành chương trình đào tạo đối với 993 học viên là cán bộ, công chức, viên chức thuộc Bộ. Điều đó cho thấy chuyển đổi số không chỉ là câu chuyện của hạ tầng, phần mềm hay cơ sở dữ liệu, mà trước hết phải bắt đầu từ con người, từ năng lực làm việc và khả năng thích ứng của đội ngũ cán bộ.
Đưa khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành động lực của ngành
Nếu chuyển đổi số tạo ra phương thức quản lý và vận hành mới thì khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo chính là động lực quan trọng để nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của các ngành sản xuất, kinh doanh.
Nhận thức rõ yêu cầu này, Bộ Công Thương đã cụ thể hóa 3 bài toán lớn được giao chủ trì theo Quyết định số 808/QĐ-TTg thành 22 nhóm sản phẩm, với 76 sản phẩm cụ thể gắn với doanh nghiệp dẫn dắt theo Kế hoạch ban hành tại Quyết định số 2159/QĐ-BCT ngày 04/9/2026.
Cách tiếp cận gắn nhiệm vụ khoa học, công nghệ với doanh nghiệp và nhu cầu thực tiễn của ngành có ý nghĩa quan trọng. Bởi giá trị của một nhiệm vụ nghiên cứu không chỉ nằm ở kết quả khoa học, mà còn phải được thể hiện qua khả năng ứng dụng, làm chủ công nghệ, thương mại hóa sản phẩm và tạo ra giá trị kinh tế - xã hội.
Trong tháng 10/2026, Bộ đã kết thúc nhận hồ sơ đề xuất đối với hai nhiệm vụ công nghệ chiến lược được phê duyệt đặt hàng, gồm thị giác máy tính và trí tuệ nhân tạo; robot công nghiệp hai tay máy. Lãnh đạo Bộ cũng chủ trì phiên họp xem xét đề xuất nhiệm vụ Bản sao số hệ thống điện; đồng thời tiếp tục rà soát hồ sơ đề nghị xác nhận sản phẩm công nghệ chiến lược đối với hệ thống lưu trữ năng lượng bằng pin (BESS).
Cùng với việc đặt hàng nghiên cứu, Bộ Công Thương đã rà soát 95 sản phẩm khoa học, công nghệ có tiềm năng thương mại hóa cao theo danh mục của Bộ Khoa học và Công nghệ. Kết quả cho thấy có 27 sản phẩm thuộc trực tiếp lĩnh vực quản lý của ngành Công Thương, 14 sản phẩm có khả năng ứng dụng trong ngành và 54 sản phẩm ngoài phạm vi quản lý của Bộ.
Trong số 41 sản phẩm liên quan đến ngành, 5 sản phẩm đã có minh chứng tương đối rõ về ứng dụng thực tế hoặc bảo hộ sở hữu trí tuệ, gồm hệ thống cô đặc nước hấp cá ngừ đã lắp đặt tại doanh nghiệp; lò đốt chất thải VHI-18B; máy phổ kế huỳnh quang tia X; nhà máy chế biến hoa hồi Lạng Sơn và công nghệ lọc sinh học IET-BF. Trong khi đó, 32/41 sản phẩm chưa xác định được tình trạng sở hữu trí tuệ, chưa có kết quả kiểm định độc lập hoặc cam kết của doanh nghiệp tiếp nhận.
Việc chỉ ra rõ những khoảng trống này có ý nghĩa thiết thực đối với quá trình lựa chọn và hỗ trợ công nghệ. Thay vì chạy theo số lượng đề tài, sản phẩm, yêu cầu đặt ra là phải đánh giá dựa trên minh chứng, năng lực ứng dụng và nhu cầu thực tế của thị trường. Bộ Công Thương định hướng ưu tiên những sản phẩm đã có doanh nghiệp xác nhận nhu cầu và cam kết đối ứng; chú trọng các lĩnh vực tự động hóa, nhà máy thông minh, công nghiệp hỗ trợ có khả năng thay thế nhập khẩu, thiết bị điện, hạ tầng sạc và các giải pháp giám sát hệ thống năng lượng.
Đây là cách tiếp cận cần thiết để khắc phục khoảng cách giữa nghiên cứu và ứng dụng, giữa kết quả trong phòng thí nghiệm và yêu cầu của dây chuyền sản xuất. Khoa học, công nghệ chỉ thực sự trở thành động lực phát triển khi tri thức được chuyển hóa thành năng lực sản xuất, sản phẩm có sức cạnh tranh và giá trị gia tăng cho nền kinh tế.
Ngày 26/10/2026, Bộ Công Thương cũng ban hành Quyết định số 2814/QĐ-BCT về Kế hoạch thực hiện Nghị quyết số 86/NQ-CP của Chính phủ ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Đây là bước triển khai nhằm cụ thể hóa định hướng thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp sáng tạo, mở rộng không gian phát triển cho các ý tưởng, mô hình và sản phẩm mới.